Gia đình ông có 2 người con trai theo nghiệp làm tượng nhà mồ cũng vì nghề đẽo tượng nhà mồ đang ế nên nhiều lúc các con ông sờn lòng, định bỏ nghề nhưng ông vẫn bền chí khích lệ con theo nghiệp cũng là giữ lại một nét văn hóa độc đáo của Tây Nguyên
Thời đó bạn bè ai cũng đi làm nương rẫy, mình cũng thế. Già làng Ay Bép xã Krông Ana, huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk năm nay đã gần 65 tuổi nhưng đã có hơn 40 năm làm nghề đẽo tượng nhà mồ. Ham là thế nhưng để trở nên một nghệ nhân không hề dễ như Ay Bép nghĩ.
5 m, trong đó chôn xuống đất 1/3, phần còn lại đẽo, gọt thành hình. Còn đồ gỗ mỹ nghệ được đục bằng đồ nghề, máy móc đương đại nên thường tinh xảo. Lắng tai nghệ nhân Ay Bép tâm can về căn số sau này của nghề đẽo tượng nhà mồ mà trong lòng chúng tôi cũng nao nao buồn, tiếc cho một nét văn hóa độc đáo mặn mòi bản sắc dân tộc Tây Nguyên đang dần mai một và có nguy cơ biến mất trong tương lai.
Tượng nhà mồ tuy chế tạo đơn giản nhưng mang ý nghĩa văn hóa riêng, đòi hỏi kĩ thuật cao là bộc lộ của tâm tình, tình cảm không chỉ của cá nhân chủ nghĩa mà còn là của cộng đồng, nó vừa là cái đẹp của con người vừa là ngôn ngữ, hơi thở của người nghệ nhân.
Tượng nhà mồ ở Đăk Lăk ngày càng hiếm. Có nhiều lí do, có thể do cuộc sống càng ngày khó khăn không có điều kiện làm, cũng có thể là do suy nghĩ thay đổi, có thể gỗ dùng làm tượng ngày một hiếm, khó tìm hơn xưa và bản thân người làm tượng cũng thưa thớt.
Chàng thanh niên Ay Bép thời đó hàng ngày gùi cơm gạo đi theo các thầy học nghề, sai gì Ay Bép cũng làm. Hiện phải động viên con nối nghiệp để giữ gìn nét văn hóa độc đáo của đồng bào mình, lớp trẻ hiện thời không còn mấy người đam mê nghề này nữa nên việc bảo tàng và duy trì rất khó khăn”, Ay Bép san sớt. Bản thân Ay Bép trong một lần chứng kiến các nghệ nhân gạo cội trong bản đục, đẽo những khối gỗ khô cứng thành những hình hài đủ dạng nên Ay Bép thích, sau mê mệt lúc nào không hay.
Dù khó khăn nhưng Ay Bép không nản, hàng ngày vẫn cặm cụi, bền chí theo học đến cùng. Ngôi nhà mồ, những pho tượng mồ được làm ra để phục vụ cho lễ bỏ mả hay cuộc chia tay, cuộc vui rút cuộc của người sống và người chết. Nguyễn Phương Nam. Thấy học sinh có tài, có duyên với nghề, các thầy bắt đầu chia sẻ “mối lái”, “đơn đặt hàng” cho Ay Bép làm.
Nên chi, khi người chết ra đi là ra đi vĩnh viễn để sống một cuộc sống khác. Năm 2006, Ay Bép vinh diệu được mời ra Huế đẽo tượng nhà mồ phục vụ Festival Huế. Với kinh nghiệm của mình ông được xem là người truyền lửa và giữ hồn cho nét văn hóa độc đáo của người đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Để tạc một tượng nhà mồ việc trước nhất là phải chọn loại gỗ bền, dai, để tránh biến dạng, mục nát theo thời kì như gỗ mật, căm xe, cà chít… mỗi khúc gỗ dùng đục tượng dài khoảng 2.
Trong một lần đi chơi, thấy các già làng đục tượng hay, lại mang ý nghĩa văn hóa tâm linh nên mình mê và kiên tâm theo học từ đó”: nghệ nhân Ay Bép nói. Người giữ hồn cho tượng nhà mồ
Người Tây Nguyên quan niệm “chết” tức thị bắt đầu cuộc sống mới ở một thế giới khác, thế giới bên kia, thế giới của hồn ma.
Nỗi lo về một nét văn hóa đang mất dần. Tượng nhà mồ vừa là một công trình kiến trúc độc đáo, vừa là một nét văn hóa tâm linh của người đồng bào dân tộc Tây Nguyên và ẩn trong đó là những điều kì bí. Để người chết ra đi thư thái và có cuộc sống đầy đủ ở thế giới bên kia, hôm làm lễ bỏ mả, người sống không chỉ làm nghi thức sinh thành cho người chết mà còn chia của nả cho người chết đem đi.
Ay Bép cho biết, các bức tượng chôn bên cạnh người chết có ý nghĩa riêng của nó như: “Tượng chim đậu ngà voi trình diễn. Trong cuộc nói chuyện với PV, nghệ nhân Ay Bép đau đáu một nỗi lo là nghề làm tượng nhà mồ đang mai một dần và có nguy cơ biến mất trong mai sau.
Nghệ nhân Ay Bép cho biết ông bắt đầu làm quen với nghề làm tượng nhà mồ lúc hồi còn thanh niên. Ông tâm tình: “Tượng nhà mồ dùng những dụng cụ đơn giản như rìu, con rựa để đẽo, gọt thành dạng hình, và chỉ chú trọng vào hình thể chung. “Mình đã già, chỉ sợ sau này không còn ai để đẽo tượng nhà mồ. Đến khi bắt đầu tập đẽo tượng, những vết rìu, dao cứa vào đôi bàn tay rỉ máu. Gỗ được chọn phải là gỗ tốt để tránh bị nứt nẻ, làm hỏng hình dáng tượng khi chôn ở ngoài trời.
Thời đó, văn hóa làm tượng nhà mồ nở rộ khắp buôn làng, trở thành nghề hái ra tiền tài nhiều người đồng bào. Giờ do nhu cầu người đến thuê làm tượng nhà mồ ít nên nhiều nghệ nhân đã phải bỏ nghề đẽo tượng chuyển sang các nghề khác có thu nhập cao hơn để lo cho cuộc sống hàng ngày, hiện tại số lượng người đẽo tượng nhà mồ trên địa bàn chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Nghệ nhân Ay Bép bên sản phẩm tượng “chim đậu ngà voi” do chính mình làm. # Sự phong lưu của gia đình người chết, tượng chim công miêu tả vẻ đẹp của người dưới mồ, tượng ngà voi bộc lộ sức mạnh của người chết khi còn sống…”.
Vốn sáng ý, siêng năng, lại sẵn lòng đam mê nên Ay Bép sớm trổi trong nhóm người đi học nghề đẽo tượng và luôn được các thầy ngợi khen.
“Mình đến với nghề đục tượng nhà mồ cũng ngẫu nhiên lắm. Tượng nhà mồ mang tính biểu trưng và ước lệ không lầm lẫn với bất cứ nền điêu khắc dân gian nào khác. Ngoài ra, sự phong phú về các loại thể tượng cho thấy khả năng sang tạo và trí nhớ tượng sạch của các nghệ nhân mô tả nỗi đau, khát vọng về sự hồi sinh từ cái chết, ước nguyện vĩnh hằng của con người. Công việc đẽo tượng nhà mồ ngoài giúp giữ gìn nét văn hóa của người đồng bào còn giúp Ay Bép trở thành no đủ.
Dù tượng nhà mồ chỉ phác thảo hình tượng nhưng tượng phải có hồn, có nét, phải mô tả được ý nghĩa của tượng, điều đó mới khó và đòi hỏi tay nghề cao”. Hơn 40 năm đẽo tượng nhà mồ, Ay Bép không nhớ mình đã đẽo bao nhiêu tượng, con số được ông ước lượng lên đến hàng trăm, thậm chí cả nghìn.