Luộc hay nấu canh với ít muối
Dùng cho bệnh nhân nôn do trào ngược thực quản. Rau hẹ, hồ đào xào dầu vừng: rau hẹ 240g, hồ đào nhân 60g. Hen khẩn cấp: lá hẹ 50g, sắc với 200ml nước còn 50ml. Tôm xào hẹ, gừng tươi. Dùng cho các trường hợp đau tức vùng ngực, nấc cụt, nôn thổ huyết, niệu huyết, trĩ xuất huyết, bệnh tiểu đường, dị ứng nổi ban, liệt dương di tinh.
Hằng ngày có thể dùng 30 - 100g dưới dạng vắt ép lấy nước, xào nấu. Dùng 3 - 4 ngày. Hãm nước cho uống. Hẹ rửa sạch để ráo, cắt đoạn; cam thảo thái lát mỏng. Xào với dầu vừng, ngày ăn 1 lần, dùng trong 1 tháng. Nước ép hẹ gừng tươi sữa bò: nước ép hẹ 60g, sữa bò 200ml, nước ép gừng tươi 10 - 20ml.
Theo kinh nghiệm dân gian, lá và thân hẹ chữa ho trẻ thơ, hen suyễn, giun kim, lỵ amíp, tiêu hóa kém. Dùng cho bệnh nhân đau bụng ỉa chảy, liệt dương di tinh. Nấu cháo gạo, khi cháo được cho hẹ vào, thêm muối vừa ăn.
Dùng tươi, giã nát, thêm 10 - 20ml nước và 1 thìa canh mật ong; hấp chín, ép lấy nước, chia uống 3 lần trong ngày. Xào với dầu thực vật, ăn nóng. Trộn đều, hâm nóng cho uống. Trị tiêu khát. BS. Ngày 1 lần; ăn liên tục 3 - 5 tháng. Chữa ho trẻ con: lá hẹ 15g, hoa đu đủ đực 15g, hạt chanh 20 hạt. Cháo hẹ: hẹ tươi 60g, gạo tẻ 100g.
Chữa giun kim, ra mồ hôi trộm ở trẻ mỏ: lá hẹ 30g, ép lấy nước, thêm 10 - 20ml vào bã lá và ép gạn; hợp 2 nước ép, thêm mật ong đủ ngọt để uống.
Eo sèo: Người bị sốt nóng, viêm nhiễm lở ngứa, đau mắt đỏ không dùng. Nước sắc hẹ cam thảo: hẹ tươi 30g, cam thảo 15g. Uống trong ngày. Theo Đông y, hẹ vị cay, tính ôn; vào can, vị, thận.
Dùng cho bệnh nhân nổi ban, mề đay. Dùng cho bệnh nhân đau lưng liệt dương. Canh hẹ: rau hẹ 200 - 300g.
Có thể làm rau ăn trong ngày. Tiểu Lan. Có tác dụng ôn trung hành khí, kiện vị, tán ứ giải độc, bổ thận tráng dương.