Ban hành tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ sự nghiệp cung cấp cho tầng lớp, hệ thống các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành và chất lượng thực hành nhiệm vụ được giao
Của người sử dụng dịch vụ. Nguồn: internet Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng thì dịch vụ công bao gồm: Dịch vụ hành chính công; Dịch vụ sự nghiệp công và Dịch vụ công ích, trong đó Dịch vụ sự nghiệp công bao gồm: các hoạt động cung cấp phúc lợi từng lớp thiết yếu cho người dân như: văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, thể dục thể thao, an sinh tầng lớp… khuynh hướng chung hiện giờ là quốc gia chỉ thực hành những dịch vụ nào mà từng lớp không thể làm được hoặc không muốn làm, nên quốc gia đã chuyển giao một phần việc cung ứng loại dịch vụ này cho khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội.
Từ những tồn tại, bất cập nêu trên, hoạt động kiểm toán tại các đơn vị này cần đưa ra được các giải pháp để cải tiến hoạt động dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp theo hướng: Một là , cần hoàn thiện cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập bằng việc tăng cường phân cấp và thực hiện trao quyền tự chủ, tự chịu nghĩa vụ cao hơn cho các đơn vị cả về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân công, tài chính theo hướng mở hơn trên cơ sở có tính đến đặc điểm từng loại hình đơn vị, khả năng và nhu cầu thị trường, trình độ quản lý; minh bạch hóa các hoạt động liên doanh, kết liên của các đơn vị sự nghiệp công lập; khắc phục tình trạng công - tư lẫn lộn.
Thứ tư, những kết quả thực hiện chủ trương từng lớp hóa cung ứng dịch vụ của đơn vị sự nghiệp trong những năm qua là quá chậm, tự phát, chưa đạt được như đích đề ra.
Hai là , nhà nước cần nối giữ vai trò chủ đạo, tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất các hoạt động sự nghiệp công căn bản và cơ cấu lại chi thường xuyên đối với các hoạt động cung cấp dịch vụ công theo hướng đảm bảo kinh phí hoạt động bộc trực đối với các đơn vị sư nghiệp được quốc gia giao nhiệm vụ theo số lượng, chất lượng hoạt động ở các địa bàn vùng núi, vùng xa, hải đảo, vùng dân tộc ít người trong các lĩnh vực sự nghiệp công; chuyển từ giao dự toán cho các đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công như bây giờ sang thực hành phương thức đặt hàng, mua hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp không phân biệt cơ sở công lập, ngoài công lập nhằm tạo môi trường thuận lợi, cạnh tranh, đảm bảo phát triển đồng đẳng giữa các đơn vị công lập và ngoài công lập.
) Để tính giảm bớt giá đầu vào và giữ mặt bằng giá ở mức hợp lý; hai là, với các trường hợp cần thực hành chính sách công bằng tầng lớp, không nên bắt các cơ sở phải miễn, giảm phí, gây thất thu và không công bằng giữa các cơ sở.
Đổi mới cơ chế tính giá đặt hàng sản phẩm, dịch vụ công; nhà nước quy định giá hoặc khung giá sản phẩm, dịch vụ đối với các loại dịch vụ căn bản có vai trò cần yếu đối với xã hội; từng bước tính đúng, tính đủ các phí tổn hợp lý trong giá dịch vụ sự nghiệp hợp với thị trường và khả năng của NSNN; xóa bỏ bao cấp qua giá, phí dịch vụ; thực hiện chính sách hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng chính sách từng lớp, các đối tượng nghèo để được tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản thiết yếu với chất lượng cao hơn; bảo đảm lợi ích của các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.
Thứ năm, môi trường pháp lý cho việc tầng lớp hóa và quản lý các hoạt động cung ứng dịch vụ còn nhiều hạn chế, điều ấy gây ra “khoảng trống pháp lý” và sự không đồng đều của hoạt động từng lớp hóa giữa các lĩnh vực khác nhau. Thứ hai, các đơn vị sự nghiệp theo quy định phải xây dựng Quy chế tiêu xài nội bộ, tuy nhiên Quy chế tiêu nội bộ phần nhiều còn nhiều điểm quy định không rõ ràng, chưa bao quát hết nguồn thu, nhiệm vụ chi, quy định phân phối thu nhập chưa gắn với hiệu quả và chất lượng công việc; chưa có quy định về quản lý, dùng tài sản công tham gia hoạt động sản xuất kinh dinh dịch vụ, chưa xây dựng định mức tiêu hao vật tư hóa chất, nhân công, khấu hao tài sản cố định, tiêu thức phân bổ dụng cụ, công cụ ăn nhập với thời kì sử dụng làm cơ sở kiểm tra, giám sát và xác định tổn phí của hoạt động sản xuất kinh dinh dịch vụ và chưa ban hành khung bảng giá dịch vụ làm cơ sở ký kết hiệp đồng, quản lý và thanh lý hiệp đồng.
Trong việc thực hành chính sách phí và lệ phí, vừa có tình trạng chưa thu đúng, thu đủ, lại vừa có tình trạng tự đặt ra những khoản thu ngoài quy định, lạm thu, cơ chế sử dụng không minh bạch, không hiệu quả, gây bất bình trong dư luận xã hội. Việc kiểm toán hoạt động dịch vụ là một nội dung quan trọng trong thưa kiểm toán tại đơn vị sự nghiệp của bộ, ngành.
Quốc gia có thể can thiệp trong hai trường hợp: một là, khi giá dịch vụ tính ra cao hơn mặt bằng giá chung, nhà nước dùng phần vốn đã tương trợ cho cơ sở (như: nhà cửa, đất đai. Theo Tạp chí Nghiên cứu khoa học kiểm toán số 71.
Nhiều đơn vị giao khoán cho cá nhân chủ nghĩa hoặc nhóm người không qua đấu thầu với mức thu khoán thấp từ nhiều năm không điều chỉnh, do đó vừa có tình trạng thất thu cho cơ sở và cả quốc gia do không kê khai nộp thuế đầy đủ, vừa ảnh hưởng đến lợi.
Thứ sáu, hoạt động liên doanh kết liên, góp vốn để cung cấp dịch vụ trong các đơn vị sự nghiệp diễn ra khá phổ thông, tuy nhiên bộ, ngành chủ quản chưa có sự chỉ đạo hướng dẫn hợp nhất về quản lý chuyên môn, quản lý tài chính, buông lỏng quản lý, chạy theo số lượng, lạm dụng kỹ thuật để tăng thu, một số đơn vị giao cho công đoàn quản lý hoặc giao khoán cho tổ chức, cá nhân bên ngoài tổ chức kinh doanh, nên có tình trạng tài sản đưa vào dùng không được kiểm định chất lượng, thiếu căn cứ xác định giá trị tài sản, xác định tỷ lệ phân chia lãi cho các bên không hợp lý, chưa tính nết đầy đủ đến lợi ích của người sử dụng dịch vụ, từ đó dẫn đến phân phối không có cơ sở, bị lợi dụng để thu lời từ người sử dụng dịch vụ, mức thu dịch vụ ứng dụng không hợp lý, trong khi hồ hết các loại hình dịch vụ có thuộc tính đặc thù, người được cung cấp dịch vụ không có nhiều tuyển lựa nhưng bộ, ngành chủ quản chưa có sự quản lý về giá, chưa kiểm soát việc xác định mức thu như thế nào hạp, đảm bảo đủ bù đắp phí và có tích lũy hợp lý, song song chưa bảo vệ lợi quyền cho cho người dùng dịch vụ.
Đây là những diễn đạt của tình trạng “thương mại hóa” các dịch vụ công đã bị phê phán gay gắt trong nhiều năm qua.
Quốc gia nên thành lập quỹ riêng để giải quyết, không để các cơ sở chịu thiệt. Đơn vị sự nghiệp ra đời đã cho thấy nhiều điểm hăng hái trong việc cung cấp các dịch vụ cho xã hội, tuy nhiên thực tế cũng cho thấy còn nhiều vấn đề cần phải xem xét, bổ sung để hoạt động cung ứng dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp tại các bộ, ngành càng ngày càng tốt hơn. Bởi vậy, khi thực hiện kiểm toán hoạt động dịch vụ của các đơn vị sự nghiệp tại các bộ, ngành cần lưu ý một số nội dung sau: Thứ nhất, xác định mức độ tự chủ chưa hạp nên hoạt động dịch vụ không có hiệu quả gây phung phá ngân sách nhà nước: việc lập và xét duyệt đề án tự chủ tài chính tại nhiều đơn vị chưa tính hạnh, xác định đầy đủ các nguồn thu và nhiệm vụ chi, đặc biệt là nguồn thu từ hoạt động dịch vụ dẫn đến xác định chừng độ tự đảm bảo kinh phí của đơn vị chưa hợp lý gây hoang toàng ngân sách, hầu hết các đơn vị được giao quyền tự chủ tài chính nhưng hàng năm vẫn cấp tăng kinh phí chi thẳng tính trong khi đơn vị có nguồn thu tại đơn vị lớn, đủ trang trải phí tổn tăng thêm.
Năm là, quốc gia khuyến khích các đơn vị sự nghiệp công mua dịch vụ công từ khu vực tư nhân đối với các dịch vụ mà tư nhân có thể làm tốt và giảm được số người làm dịch vụ trong cơ quan quốc gia, như bảo dưỡng dụng cụ phòng cháy, chữa cháy, các công cụ tin học, đáp ứng nhu cầu về phương tiện đi lại, làm vệ sinh và công việc phục vụ trong cơ quan… Sáu là, hoàn thiện hơn các dụng cụ quản lý và vai trò soát, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động cung cấp dịch vụ sự nghiệp công nhằm cung cấp tốt hơn cho mọi xã hội dân chúng, phát huy các nguyên tố hăng hái, hạn chế các mặt trái của cơ chế thị trường.
Thực tiễn tại nhiều bộ, ngành chừng độ tự chủ của các đơn vị đều cao hơn so với mức độ tự chủ tính theo dự toán giao, một số đơn vị chừng độ tự chủ thực tiễn cao hơn nhiều so với dự toán, điều này dẫn đến các đơn vị phát triển hoạt động dịch vụ không có định hướng, các điều kiện pháp lý cấp thiết không được chuẩn bị đầy đủ, nên hoạt động không hiệu quả, không cân đối được thu chi, không bảo toàn được tài sản quốc gia.
Ba là, hoàn thiện cơ chế đặt hàng, mua hàng, giao nhiệm vụ cung ứng dịch vụ công theo hướng ban hành hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật và tiêu chí, tiêu chuẩn của từng loại hình dịch vụ công. Việc kiểm toán hoạt động dịch vụ là một nội dung quan trọng trong bẩm kiểm toán tại đơn vị sự nghiệp của bộ, ngành.
Và rốt cuộc, vấn đề cốt lõi trong hạch toán là phải tính đúng, tính đủ; điều này liên tưởng trực tiếp đến các vấn đề học phí, viện phí và các loại phí dịch vụ công khác, bản chất là vấn đề giá của dịch vụ công.
Vì mục đích lợi nhuận, tư nhân tham dự hoạt động dịch vụ luôn có thiên hướng đẩy giá dịch vụ lên cao, đi kèm với đó là việc xác định giá, cước, phí dịch vụ một cách khá tùy tiện và cơ chế tài chính, chi thu thiếu minh bạch, ảnh hưởng thụ động đến những người hưởng dịch vụ, nhiều dịch vụ còn mang tính tự phát, thiếu điều tra, khảo sát kỹ lưỡng, thiếu chuẩn bị các điều kiện để đảm bảo chất lượng dịch vụ, dẫn đến tình trạng một số cơ sở không duy trì được quy mô ban sơ, thậm chí phải giải tán.
Ở một số đơn vị còn khuyến khích chi thưởng cho các tổ chức, cá nhân chủ nghĩa tham dự tổ chức hoạt động dịch vụ không đúng quy định, tạo cơ chế không sáng tỏ trong khai triển thực hành.
Việc quản lý góp vốn liên doanh của các đơn vị cũng rất hạn chế và lỏng lẻo, có những đơn vị thực hiện góp vốn liên doanh trên 51% vốn điều lệ, có quyền chi phối hoạt động song kinh doanh lỗ kéo dài, vượt quá cả phần vốn góp, trong khi quản trị chi phí yếu kém, mất cân đối thu - chi, làm thất thoát và không bảo toàn được tài sản nhà nước.
Thứ ba, một số đơn vị nguồn thu từ hoạt động dịch vụ lại coi như khoản thu phí, lệ phí và bổ sung nguồn kinh phí để sử dụng, không thực hiện hạch toán riêng để có cứ kê khai nộp thuế theo quy định; đối với hoài còn nhiều đơn vị không hạch toán riêng, rõ ràng, minh bạch kết quả hoạt động dịch vụ, do các khoản phí hạch toán lẫn trong phí hoạt động thẳng của đơn vị và một số khoản tổn phí chưa tính hoặc không có khả năng tính đúng, tính đủ, do đó không có căn cứ để xác định đúng số thuế phải nộp theo quy định.
Bốn là , đổi mới cơ chế tài chính đối với nhóm các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp các dịch vụ công có khả năng từng lớp hóa cao, tự bảo đảm quờ uổng hoạt động (các trường đại học, bệnh viện…) theo hướng trao quyền tự chủ, tự chịu bổn phận đồng bộ cả về tổ chức thực hành nhiệm vụ, nhân công, tài chính, tài sản khi cung cấp dịch vụ gắn với nhu cầu của xã hội, được quyết định thu giá dịch vụ trên cơ sở khung giá tính đủ các phí hợp lý, đúng luật pháp do cấp có thẩm quyền ban hành; được nhà nước giao vốn, xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp; được quyền huy động vốn, dùng vốn, tài sản gắn với nhiệm vụ được giao theo quy định để mở mang việc cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, tự quyết định số người làm việc và trả lương trên cơ sở thang bảng lương của quốc gia và hiệu quả, chất lượng công việc.